CHÂU Á ĐỐI VỚI LỊCH SỬ TÂY BAN NHA

 (Asia para la historia de España)

(Asia in the Making of Spain)

 

Florentino Rodao

Trans:  Nguyen Lan Phuong.

National Library (Thu Vien Quoc Gia Viet Nam), Hanoi, 2/VI/2008 

 

Theo truyền thống đối với Tây Ban Nha, châu Á luôn là một nơi ít quan trọng. Xu hướng này gần đây đă thay đổi, nhưng sự thật là, trừ những khoảng thời gian ngắn ngủi, quan hệ Tây Ban Nha – châu Á là một lịch sử đầy những cơ hội bỏ phí. T́nh h́nh thế giới hiện nay đang làm thay đổi cách suy nghĩ của Tây Ban Nha và bị phần lớn các nước châu Âu lôi kéo, Tây Ban Nha bắt đầu năng động xích lại gần châu Á thông qua các Kế hoạch châu Á khác nhau, giống các nước châu Âu khác như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh hoặc Pháp đă từng làm trước đây. V́ vậy tôi sẽ tập trung theo tŕnh tự thời gian để chỉ ra các khả năng lựa chọn đă bị bỏ qua hay là những cơ hội ở châu Á dành cho Tây Ban Nha bị mất đi.

 

Vào thời kỳ Phục hưng, hay thời kỳ các chuyến đi biển dài ngày, có thể được coi là cơ hội đầu tiên trong số đó. Cho dù khoảng cách xa xôi giữa bán đảo Iberia và những người tartaro (thuộc vùng Trung Á) như khi đó người ta vẫn gọi những người đến từ vùng lănh thổ đó, những người Castilla và những người khác thuộc vùng bán đảo Iberia đă ở trong tư thế thuận lợi để tiến gần lại châu Á. Chúng ta biết rằng Cristobal Colon đă muốn đi tới vùng Cipango de Marco Polo, Nhật bản, khi ông t́m ra châu Mỹ, nhưng tôi cũng muốn thêm vào ba ví dụ nữa:

 

1)     Đoàn sứ giả của Rui de Clavijo đi Samarcanda, một vùng dân cư rất trung tâm trên con đường tơ lụa, đă để lại những dấu ấn quan trọng như một khu dân cư có tên gọi là Madrid. Người đàn ông Madrid này đă thăm Tamerlan năm 1404 với mục tiêu cuối cùng là t́m kiếm các quan hệ hữu nghị để chống lại kẻ thù chung là đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ đang ngày càng hùng mạnh.

 

2)     Cái gọi là Bản đồ Ca-ta-lăng.

 

3)     Chuyến đi ṿng quanh trái đất của Magallanes và Elcano, và trong chuyến đi đó lần đầu tiên họ đi trên những chiếc tàu của người Cát-ti-già tại vùng này, đặc biệt là vùng đảo Guam, quần đảo Phi-líp-pin và nhất là các đảo Molucas, nơi sản phẩm gia vị của nó là mục tiêu chính của chuyến đi. Các nguồn tài nguyên này biện hộ cho các chuyến đi sau này nhằm t́m kiếm một phần thị trường vận tải đi châu Âu. Hồi ấy Vương triều Castilla đă ư thức được điều đó và năm 1529 hai người Bồ Đào Nha được Vua Carlos I thuê đă vẽ một bản đồ h́nh chữ thập trong lịch sử ngành đồ bản, tấm bản đồ đầu tiên mà các bờ biển châu Á có h́nh dáng giống thực tế. Mục đích của tấm bản đồ này là chính trị v́ nó muốn chứng minh rằng các ḥn đảo sản xuất gia vị này nằm trong một thế giới thuộc quyền của Castilla trong sự phân chia thế giới mà họ đă thực hiện đầu tiên trong Hiệp ước Tordesillas và sau này, sau chuyến đi ṿng quanh trái đất đầu tiên là với Hiệp ước Zaragoza.

 

Họ đă không kiếm được ǵ, chủ yếu là do sự chống đối của Bồ Đào Nha. Những năm đó các lợi nhuận do việc vận chuyển hàng hóa sang châu Âu là không kể xiết và những người Bồ Đào Nha không thể cho phép những đối thủ cạnh tranh tới. V́ vậy, khi đoàn sứ giả tiếp theo tới châu Á, đoàn viễn chinh đă bị hao tổn của Villalobos đă có đụng độ với các hạm đội khác và quân viễn chinh Castilla bị bắt giữ. Sự chống đối này cộng thêm quyết định sau này của Carlos V bán quyền về các đảo Molucas cho Bồ Đào Nha, các của cải c̣n nằm ở châu Mỹ và không có khả năng t́m được một con đường trở về trên Thái B́nh Dương từ bờ biển châu Á tới bờ biển châu Mỹ là những lư do làm Tây Ban Nha rời xa châu Á lần đầu tiên. Ngược với Bồ Đào Nha mà cho tới thập kỷ 1550 đă quan tâm tới châu Á hơn bất kỳ nơi nào khác. Chúng ta đừng quên tầm quan trọng của Os Luisiadas đối với Bồ Đào Nha và tầm quan trọng của Luis de Camoens, người đă bị đắm tàu tại cửa sông Mê-kông.

 

Trong phần ba cuối cùng của thế kỷ XVI đă có một mối quan tâm đến châu Á nảy sinh lại từ vùng Castilla mặc dù được thúc đẩy từ bên ngoài . Mặt khác, chuyến viễn chinh đầu tiên tới Phi-líp-pin nhằm tạo ra một cộng đồng dân cư Tây Ban Nha sinh sống định cư tại quần đảo này, thúc đẩy từ Tân Tây Ban Nha (Mê-khi-cô) và với sự nhất trí đa số tuyệt đối của những người đang sinh sống tại đó. Mặt khác, việc xích gần lại với Bồ Đào Nha thông qua Liên minh Iberia sau khi Felipe II được phong làm Vua của Tây Ban Nha. Trong những năm đó Phi-líp-pin được coi là cây cầu bật hướng tưới châu Á và trong thập kỷ 1580 đă có một loạt dự án nhằm chinh phục Trung hoa do Manel Ollé nghiên cứu trong cuốn Liều lĩnh với Trung hoa của ông. Quan hệ nối lại với Bồ Đào Nha đă đem lại cho những người Tây Ban Nha ở châu Á một điều được họ chứng minh một cách rất đáng tin cậy rằng Tây Ban Nha đă sai lầm với những ư tưởng ban đầu định chinh phục Trung hoa. Chúng ta đừng quên rằng một trong những món quà tặng của người Bồ Đào Nha dâng lên vua xứ Castilla là một con voi như một cách chỉ ra cho nhà vua mới rằng cần phải chú ư đến châu Á.

 

Trong những năm đó đă diễn ra một loạt các cuộc viễn chinh chung mà nếu như thành công có lẽ đă mang lại cho Liên minh Iberia đang tồn tại khi ấy đề án chung thành đạt c̣n thiếu để làm nền móng. Lănh thổ Việt Nam là một ví dụ, do trong sự phân chia về diện tích ở châu Á những người Bồ Đào Nha đă có mặt ở bờ biển của Ấn độ (Surat và Cormandel) và ở các đảo vùng Đông Nam Á, trên đường đến Molucas, trong khi những người Cát-ti-già ở các đảo Phi-líp-pin. Đông Nam Á lục địa khi ấy là một vùng thích hợp nhất cho các cuộc viễn chinh hỗn hợp mà đáng ra liên quân Iberia đă có thể đặt được một chân lên Căm-pu-chia. Trong những năm đó khi cơn sốt châu Mỹ giảm một cách tương đối, có thể t́m được những lời khẳng định lạ lùng về sự hiện diện của Tây Ban Nha ở châu Á ví dụ như do thừa người và cần phải t́m ra những vùng lănh thổ có thể định cư được khi trong suốt chiều dài ba thế kỷ sự hiện diện của Tây Ban Nha tại Phi-líp-pin số lượng b́nh thường chỉ có gần một ngh́n người Tây Ban Nha.

 

Năm 1596 và 1598, có hai đoàn viễn chinh đi Căm-pu-chia định kiếm t́m một sự hiện diện ổn định ở đó, tập hợp một mặt là các kiến thức của người Bồ Đào Nha về khu vực với số dân di cư Tây Ban Nha và nhất là với đủ loại người phiêu lưu, châu Âu và người lai tràn ngập khắp khu vực. Các cuộc viễn chinh này có những điều tương tự như các cuộc viễn chinh đă diễn ra ở châu Mỹ những năm trước, khi mà một nhóm đầy tham vọng, không kể đến nguồn gốc chủng tộc, đă chinh phục được (và lấy được chiến lợi phẩm) các thành phố và vùng lănh thổ, nhưng trong trường hợp các cuộc viễn chinh này, các cơ cấu nhà nước mà họ dự định lật đổ đă ổn định hơn rất nhiều ví dụ như ở Phi-líp-pin. Chúng ta không nên quên tầm quan trọng của các vùng lănh thổ mới đối với Tây Ban Nha v́ trong những năm cuối thế kỷ XVI và những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XVII h́nh ảnh của Cam-pu-chia rất hùng mạnh trong trí tưởng tượng của người Tây Ban Nha. Khi Don Quijote được mời nhậm chức ở Candaya, sự giải thích đáng hoan nghênh nhất là Cervantes đă lấy cái tên đó từ Cam-pu-chia, những năm đó là một điển h́nh thường được nhắc đến của bán đảo, cùng với Gallinato, người lănh đạo cuộc viễn chinh đầu tiên là những nhân vật được người ta kể các câu chuyện đáng ngờ về các nàng công chúa mà họ đă cưới làm vợ.

 

Ngoài ra, châu Á c̣n có thể được coi là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ra thất bại cho Liên minh Iberia hoặc là những người Bồ Đào Nhacamr thấy rằng họ chẳng được lợi lộc ǵ khi liên minh với Castilla và Aragón. Các Hội đồng của Vương quốc tổ chức vào thế kỷ XVII thể hiện các tranh chấp liên tục giữa những người Bồ Đào Nha với nhau, kích động việc gửi quân và vật liệu tới châu Á trước một số người Castilla lại thiên về đưa họ sang châu Mỹ. Hậu quả thấy rơ v́ với cuộc chiến tranh với các nước vùng Đất thấp, các thuộc địa Bồ Đào Nha ở châu Á phải gánh chịu nhiều thiệt tḥi nhất (so với các thuộc địa ở Mỹ, ví dụ như Pernambuco, thuộc Brasil, đă lấy lại được độc lập từ tay những người Hà Lan) và đúng vào năm 1639, một năm trước khi xảy ra chiến tranh chống Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha vĩnh viễn bị quét sạch ra khỏi Nhật bản. Nguyên nhân là do một cuộc khởi nghĩa ở đảo Kyushu nơi đạo Thiên Chúa đóng một vai tṛ đối lập nhưng cũng đủ để những người Bồ Đào Nha đổ lỗi cho người Tây Ban Nha v́ việc xác định giữa những người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đă dẫn đến việc trục xuất này. Người Tây Ban Nha bị trục xuất năm 1624.

 

Các nghiên cứu gần đây cũng đă chứng minh rằng Trung hoa đă tài trợ khá nhiều cho đế quốc Tây Ban Nha tại châu Mỹ. Vào thập kỷ 1570, sau thất bại của tiền giấy, Trung hoa áp đặt việc đóng thuế bằng bạc và tạo ra một thị trường bạc toàn cầu mà Tây Ban Nha đă được hưởng lợi do giá bạc tăng cao. Có thể nói việc toàn cầu hóa bắt đầu với việc thành lập Manila và ngay sau đó lượng lớn hàng hóa từ đây đă đi khắp thế giới tới những thị trường bán được giá nhất. Quan hệ giá trị giữa bạc và vàng đă nắm vai tṛ chỉ đạo v́ ở châu Á từ 6 đến 8 đồng bạc ăn một đồng vàng trong khi ở châu Âu tỷ lệ này là 12, có nghĩa là bạc từ châu Mỹ của Peru và Mê-khi-cô qua đường Thái B́nh Dương cũng như Ấn Độ Dương chảy ồ ạt vào Trung hoa và đă đóng vai tṛ quyết định để duy tŕ đế quóc Tây Ban Nha tại châu Á, một thời gian mà người ta coi là khá ngắn ngủi.

 

Một khi Phi-líp-pin trở thành thuộc địa của một thuộc địa là Mê-khi-cô, châu Á vẫn nằm ngoài lề suy nghĩ của Tây Ban Nha, càng ngày vấn đề trong nước lại càng tăng lên so với các cuộc phiêu lưu ngoài nước nhưng cũng cần nhớ đến các cơ hội đă để mất, những cơ hội mà một số người đă nhận ra ngay từ lúc đó. Trong thời kỳ sau Cách mạng Pháp, Phi-líp-pin và châu Á có thể đă là những điểm mũi nhọn cho một sức sống mới của Tây Ban Nha. Đoàn viễn chinh khoa học lớn nhất của Tây Ban Nha những năm đó, một trong những đoàn lớn nhất của loài người thời bấy giờ là đoàn của Malaspina, do vua Carlos III phái tới, có mục tiêu chính ở châu Á và Thái B́nh Dương với vô vàn nghiên cứu về các loài cây cỏ có thể cho giá trị thương mại…Các chính sách nội bộ đă không ảnh hưởng ǵ tới ông ta v́ Malaspina trở về Tây Ban Nha vào thời vua Carlos IV và nghĩ rằng uy tín mà ông ta tạo dựng được có thể trở thành một chiếc đ̣n bảy giúp ḿnh vươn tới một vị trí chính trị.

 

Vào thế kỷ XIX, sau độc lập của Mê-khi-cô, tại Tây Ban Nha đă mở ra một thời kỳ mới cho châu Á v́ lúc này nó đă không c̣n là một vùng quan trọng thứ yếu nữa. Tuy nhiên, một lần nữa người ta lại để cơ họi trôi qua mất. Manila đă tiến thêm vài bước để ḥa nhập và tăng cường thương mại với khu vực, nhưng những khoản lợi khổng lồ mà mía đường Cuba đem lại đă che phủ lên tất cả các cơ hội của châu Á. Josep Maria Fradera đảm bảo rằng Cuba là một thuộc địa xứng đáng cả một đế quốc và người ta đă nhận thấy điều đó trong suốt thế kỷ XIX. Tuy rằng lợi nhuận của mía đường giảm dần từ những năm 1850, chính sách duy nhất của Tây Ban Nha ở châu Á vẫn liên quan tới Cuba, mà lẽ ra phải liên quan với Phi-líp-pin. Ví dụ, Tây Ban Nha đă đặt tổng lănh sự của ḿnh ở Macao măi cho tới năm 1868 v́ từ hải cảng Bồ Đào Nha ấy các con tàu chở phu người Trung hoa, thứ vô cùng cần thiết, sang làm cho các đồn điền mía đường Cuba v́ lúc này đă có lệnh cấm buôn bán nô lệ. Các chuyến đi từ Trung hoa đă bị cấm do những khiếu nại về đối xử tàn tệ đối với các dân phu này nhưng Tây Ban nHa vẫn định sẽ kư hiệp định với các vùng khác trong khu vực để đảm bảo nguồn phu cho các đồn điền mía đường ở Cuba.Trên thực tế đă có một hiệp định được kư kết giữa Tây Ban Nha và Việt Nam về vấn đề này.

 

Cơ hội chủ yếu để châu Á trở lại đóng vai tṛ chính trong chính sách hải ngoại của Tây Ban Nha chính là quan hệ với Việt Nam. Đối mặt với tất cả các cuộc viễn chinh xuất phát từ Tây Ban Nha trong những năm của Liên minh Tự do (1857 – 1864), cuộc viễn chinh đến Cochinchina có thể là cuộc viễn chinh mang lại nhiều lợi ích nhất cho đế quốc Tây Ban Nha về mặt kinh tế nếu xét về lâu dài. Đă có nhiều đoàn viễn chinh đi Mê-khi-cô, Santo Domingo, Ma-rốc nhưng việc áp đặt thuộc địa Tây ban Nha ở một vùng nào đó của Việt Nam có thể có một ảnh hưởng bổ sung cho các ảnh hưởng của Phi-líp-pin và làm sống động thêm sự hiện diện của Tây Ban Nha tại khu vực. Ngược lại, sự mở rộng thuộc đia duy nhất tại Phi-líp-pin là các quần đảo thuộc Micronesia, nơi không có các lợi ích kinh tế mà ngoài ra kiểm soat và điều hành mọi thông tin liên lac c̣n là cả một gánh nặng.

 

Tiền đề phát triển kinh tế đi ngược lại với an ninh là điều gây trở ngại cho sự hiện diện của Tây Ban Nha trong những năm cuối cùng tại châu Á. Một lần nữa người ta lại đánh mất đi cơ hội và nỗi ám ảnh của các nhà cầm quyền trong những năm cuối cùng của thế kỷ là bảo về các ḥn đảo của Phi-líp-pin khỏi các cuộc xâm lăng từ bên ngoài. Và người ta cũng biết rằng Tây Ban Nha không thể kháng cự lại trước một cuộc tấn công của một nước đế quốc như Anh, Pháp hoặc Đức, các vũ khí chỉ tập trung ở nơi mà người ta thấy có khả năng chiến thắng, có nghĩa là ở Trung hoa và Nhật bản. Đặc biệt Nhật bản là nơi thể nghiệm điều này rơ nhất sau nhiều năm trôi qua . Nỗi sợ hăi này đưa lại nhiều hậu quả quan trọng v́ nó làm hạn chế việc nhập cư của người Trung hoa và người Nhật ở các đảo thuộc Phi-líp-pin và Micronesia cho dù việc này có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế ở các vùng lănh thổ đó. Quang cảnh xấu nhất mà người ta có thể thấy lúc đó trước một cuộc chiến tranh với Nhật bản hoặc với Trung hoa là một sự lôn xộn trong nước  do “các tộc dân da vàng” gây rakhi đứng trước một cuộc chiến có thể để chống lại một trong hai nước kể trên. Một lần nữa Tây Ban Nha lại áp dụng chính sách hạn chế quan hệ với châu Á.

 

Năm 1898 lại là một điển h́nh nữa về tầm quan trọng của châu Á đối với đế quốc Tây Ban Nha. Cuộc chiến đầu tiên giữa Mỹ và Tây Ban Nha trên thực tế đă diễn ra tại Manila và Phi-líp-pin đă là một bước ngoặt trong các quyết định của Oa-sinh-tơn. Trong những năm đó, những nghi ngờ về tương lai của  đế quốc Tây Ban Nha đều liên quan đến Phi-líp-pin (người ta biết rằng các ḥn đảo vùng Antillas đă bị Mỹ đô hộ) và một lần nữa Phi-líp-pin lại được coi như nấc thang đầu tiên hướng tới châu Á đại lục.T́nh h́nh chính trị nội bộ của Mỹ đang gặp khó khăn trong những năm đó với số người bị bọn Ku-Klux-Klan giết hại ngày càng nhiều và sự căng thẳng không ngừng  tăng lên do t́nh h́nh kinh tế bị suy thoái. Tổng thống Mc. Kinley phải thừa nhận rằng phải t́m kiếm Phi-líp-pin trên một tấm bản đồ v́ ông không nắm được vị trí chính xác của nó, nhưng ông xác định rất rơ ràng rằng cần có một căn cứ để bán các sản phẩm của Mỹ ở châu lục này.

 

Ở thế kỷ XX, quan hệ của Tây Ban Nha với châu Á đă rất khác trước. Mối quan tâm tới châu Á nằm trong tay các nhóm tư nhân tăng cường các quan hẹ với châu Á với các cơ sở rất khác nhau nhưng đều thể hiện một sức sống chưa từng có. Một mặt, đó là các lợi ích doanh nghiệp Tây Ban Nha, được thể hiện rất sống động với các doang nghiệp thích nghi với sự thống trị kiểu mới của Mỹ như Tổng Công ty Thuốc lá Phi-líp-pin, đă trở thành một trong những công ty quan trọng nhất của nước này chotowis những năm 1950. Trong số các doangh nghiệp Tây Ban Nha đó c̣n có San Miguel của Andres Soriano và nhiều công ty khác . Mặt khác, các nhà truyền giáo, nhờ các khoản đầu tư của ḿnh sau khi bán đi một số đất ở Phi-líp-pin, họ trở nên có tiền và từ Manila họ tài trợ cho toàn bộ khu vực. Trên thực tế, các nhà truyền giáo trước tiên đă đi đến các tu viện chính ở Intramuros de Manila sau khi rời Tây Ban Nha và sau đó đi tới điểm đến của ḿnh như Việt Nam và Trung hoa. Quan hệ của Tây Ban Nha với châu Á v́ thế đă đă tự đi trên đôi chân của ḿnh từ năm 1898, một bên là doanh nghiệp và một bên là truyền giáo và đă rất thành công.Mặc dù người ta nói rằng ảnh hưởng của Tây Ban Nha ở Phi-líp-pin giảm đi sau năm 1898 nhưng tôi lại cho là đă xảy ra ngược lại chính là v́ đă bớt đi được gánh nặng chính thức và bản sắc Tây Ban Nha được Phi-líp-pin hóa và trở thành một sự lựa chọn mang tính dân tộc chủ nghĩa trước ách thuộc địa kiểu mới của Mỹ, đó là một mặt, mặt khác nó phải đối mặt với các bản sắc địa phương có thể bị xa rời và hơn nữa c̣n bị coi thường.

 

Ba ví dụ có thể sử dụng làm minh chứng:

 

1-     Ṭa nhà Capitol ở quảng trường CallaoMadrid, c̣n gọi là ṭa nhà Carrión, chủ của nó là chủ của nhà máy thuốc lá tại Phi-líp-pin.

 

2-     Hành tŕnh ManilaMadrid, Arnacal (Arnaiz và Calvo) là hành tŕnh đầu tiên người Phi-líp-pin thực hiện để đi tới châu Âu.

 

3-     Các bộ phim đầu tiên được làm bằng tiếng Tây Ban Nha cho khán giả Phi-líp-pin như Bí mật lời xưng tội của Parlatone Hispano - Phi-líp-pin. Thời gian chỉ ra sự đổ vỡ mà cuộc nội chiến đưa đến cho sự hiện diện của Tây Ban Nha tại châu Á, v́ ṭa nhà được khai trương năm 1935, chiếc máy bay đă tới Tây Ban Nha một tuần trước khi nổ ra cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha (trên thực tế nó đă bị ch́m tại cảng Barcelona từ khi đó do một trận ném bom) và những bộ phim đầu tiên ấy đă được sinh ra vào năm 1937. Các cuộc giao tranh trong nwowcstwowng phản với sự hiện diện của Tây Ban Nha tại châu Á, mở màn cho sự chiếm đóng Phi-líp-pin của Nhật và sự phá hủy Manila.

 

 

 

 

 

     Libros  Books  Académico  Scholarly  Artículos Articles Reseñas-Reviews  日本語 Tagalog