Florentino Rodao
Trans: Nguyen Lan Phuong.
Institut of History (Vien Su Hoc Viet Nam), Hanoi,
3/VI/2008
Phi-líp-pin, Việt Nam và Tây Ban
Nha từ khi c̣n chưa có
Đông
(The
Philippines, Vietnam and Spain when there was not a Southeast Asia as such,
1565-1898)
Các mối quan hệ trong lịch sử
giữa Tây Ban Nha và Việt
Nhằm mục đích
đó , tôi sẽ nhắc lại các mối quan hệ và những
cố gắng tiếp xúc qua các thời kỳ khác nhau trong
thời gian Tây Ban Nha có mặt tại Phi-líp-pin. Nhưng tôi
sẽ tập trung chủ yếu vào chính bối cảnh nội
bộ của quần đảo Phi-líp-pin, đối với
khu vực cũng như trong Đế quốc Tây Ban Nha. Ngoài
ra, tôi coi các quan hệ với Việt nam, hay với các bờ
biển Việt Nam như là một phần của phạm
vi khu vực v́ rằng sự ít ỏi trong quan hệ c̣n
được ghi nhận với toàn bộ khu vực
Đông Nam châu Á. Ngwoif ta có thể chia sự hiện diện
của Tây Ban Nha tại châu Á ra làm ba thời kỳ chính:
trước tiên là sự bành trướng cho tới năm
1605, và tiếp theo là thời kỳ ……….. của Manila, kéo dài
tới năm 1810 và cuối cùng là các quan hệ trực tiếp
giữa Phi-líp-pin và Tây Ban Nha tới năm 1898.
1.- Sự bành
trướng sang châu Á
Giai
đoạn đầu tiên với đặc thù chưa xác
định về một lănh thổ mà Magallanes và Elcano
đă t́m thấy trong chuyến đi ṿng quanh thế giới
lần đầu vào năm 1520, đó là quần đảo
Phi-líp-pin. Sau bốn thập kỷ, khi những người
Tây Ban Nha có thể chiến thắng lực lượng
đối lập Bồ Đào Nha một cách dễ dàng
hơn, một đoàn viễn chinh đă đến từ
Tân Tây Ban Nha (Mê-hi-cô) để định cư vĩnh viễn,
một mục tiêu khả thi sau khi t́m được con
đường trở về bờ biển châu Mỹ nhờ
ḍng nước đen hay c̣n gọi là Kuroshio. Cộng đồng
Tây Ban Nha định cư đầu tiên ở vùng Cebú và
sau đó chuyển sang
Những
năm đầu, họ đă tranh căi rất nhiều về
hai khả năng lựa chọn có thể vào lúc đó. Trước
mong muốn định cư vĩnh cửu tại
Trong
thập kỷ 1590, những người Tây Ban Nha ở châu
Á đă hướng cái nh́n của ḿnh vào vùng Đông Nam Á và
đă có những cuộc viễn chinh đầu tiên. Năm
1596, một cuộc viễn chinh gồm ba chiếc tàu thủy
đă đi đến Phnom Penh để giúp Vua Cam-pu-chia
Paramaraja II (Vua từ 1579 đến 1594) trong các tranh chấp
nội bộ chống lại các phe khác cũng như trong
các tranh chấp bên ngoài chống lại thế lực
đang ngày càng mạnh của người Xiêm. Đă không
có con tàu nào đến được như dự định,
nhưng con tàu đến muộn nhất là con tàu chỉ
huy, dưới quyền của thuyền trưởng
Hai
năm sau, vào năm 1598, một đoàn viễn chinh khác gồm
ba tàu lại lên đường để hỗ trợ cho
con của Vua Paramaraja. Đoàn này không có sự hỗ trợ
chính thức của Manilamaf đơn thuần chỉ là do
Luis Pérez Dasmariñas, con của cựu toàn quyền Dasmariñas dựng
lên, nói cách khác là, cuộc viến chinh hoàn toàn thực hiện
bằng ngân quỹ tư. Lần này quân viễn chinh đă phải
chiến đấu với tất cả các lực lượng
khác trong cả nước và sau khi lại rút gươm ra
khỏi vỏ th́ cuối cùng họ đă bị thất bại
và bị chết trong các cuộc hỗn chiến, dù rằng
cũng có những tin sau này nói rằng một vài trong số
những người mạo hiểm đó vẫn c̣n sống.
Sau này lại có một yêu cầu “hữu nghị và giúp
đỡ” nữa từ phía triều đ́nh Căm-pu-chia
và toàn quyền Pedro de Acuña (1602-1606) đă cử một
đoàn viễn chinh gồm sáu thường dân và ba giáo dân
nhưng do thấy vấn đề phức tạp nên
đă sớm hủy bỏ.
Các
cuộc viễn chinh tới Đông Nam Á trong thập kỷ
1590 là khá thú vị. Đó là sự thể ghiện rơ nét nhất
của thời kỳ bành trướng tại Phi-líp-pin, phản
ánh những tham vọng của những người đă
đi tới Phi-líp-pin, nhiều người trong số
đó đă viết rằng họ đi Trung hoa do nhu cầu
thiết lập cộng đồng định cư ở
đó. Cần phải nêu bật hai nhận xét: rằng
đă có yêu cầu giúp đỡ và đă đáp ứng với
sự cộng tác của những người Bồ
Đào Nha. Trước hết, các yêu cầu của một
vua Căm-pu-chia t́m sự ủng hộ để chống
lại các lực lượng đối lập trong nước
và chống lại sự đe dọa từ bên ngoài, trong
trường hợp này là từ nước Xiêm. Đây là
khuôn mẫu đặc trưng của cái cớ để
tiến hành đô hộ. Những người Tây Ban Nha
đă tận dụng cái cớ này ở châu Mỹ và trường
hợp của Căm-pu-chia không có lư ǵ lại phải khác
đi, theo như khái niệm của những người mới
tới. Thứ hai là ư tưởng và việc thực hiện
là do cả người Tây Ban Nha lẫn người Bồ
Đào Nha. Những người Bồ Đào Nha đă hoàn
toàn chống lại người Tây Ban Nha trong những
năm đầu tiên và trong thập kỷ 1530, cuộc viễn
chinh của Villalobos từ châu Mỹ, sau cuộc viễn
chinh của Elcano, đă được đón tiếp tại
các đảo vùng Molucas bằng những phát đại bác.
Sau này, tuy nguồn lợi và sức mạnh của người
Bồ Đào Nha bị suy giảm nhưng họ vẫn tiếp
tục chống lại bất kỳ h́nh thức hợp
tác nào với người Tây Ban Nha và khi vương triều
của Castilla và Bồ Đào Nha thống nhất lại
(Liên hiệp Iberica 1581-1640) các lănh thổ hải ngoại của
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đă có sự độc lập
hoàn toàn với nhau và những người Tây Ban Nha không muốn
phiêu lưu tại các vùng lănh thổ thuộc quyền cai trị
của Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, vùng Đông Nam Á lục
địa lại khác v́ lúc đó chưa thuộc quyền
cai trị của bất kỳ ai và cả hai đă cùng cộng
tác. Như vậy, mặc dù các cuộc viễn chinh xuất
phát từ Manila, nhiều người Bồ Đào Nha
đă mơ chinh phục được châu Á bắt đầu
bằng những vùng lănh thổ nhỏ, cũng phải
đối đầu với những kẻ thù của Aceh
và tiêu diệt Trung hoa, như điều đă diễn ra với
viên giám mục của Malaca người Bồ Đào Nha,
Joao Ribeiro Gaio. Trong các cuộc viễn chinh, cùng với những
người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, người ta c̣n
ghi nhận sự có mặt của những người lai
và nói chung, của nhiều người phiêu lưu nhan nhản
trong khu vực, mà những ham muốn làm giàu hoặc truyền
giáo đă làm nhạt đi bản sắc nguồn gốc.
Những
tham vọng của thời kỳ bành trướng là sự
pha trộn của các mục tiêu tôn giáo, của cải và
quyền lực, tùy thuộc vào nhóm này hay nhóm kia. Trong lúc các
nhà truyền giáo đang thắng thế và được
kích động bởi ư tưởng là những người
đầu tiên truyền đạo vào các nước này,
th́ những người không đạo mơ tưởng
tới của cải vật chất và quyền lực
như đă diễn ra ở châu Mỹ như những ǵ họ
được chứng kiến trong các chuyến đi của
những năm đó, đầy ắp người mong muốn
có một cuộc đời mới ở châu Á. Tuy nhiên,
cùng với thời gian các nhà truyền giáo đă từng
bước nắm được quyền cai trị ở
châu Á. Trong khi đó, ở châu Mỹ, tầm quan trọng của
họ bị giảm đi và chỉ c̣n duy tŕ được
ở những vùng lănh thổ giáp ranh c̣n ở châu Á th́ họ
đă củng cố được ảnh hưởng,
trước tiên là ở Phi-líp-pin và sau đó là ở các phần
c̣n lại trong khu vực. Họ đă đạt được
điều này bằng các h́nh thức khác nhau, một trong số
đó là thông qua xu hướng bảo vệ các thổ dân
Phi-líp-pin trong các khiếu nại về việc họ bị
các ông chủ đồn điền bóc lột, giúp họ
thỉnh thoảng thắng kiện. Hệ quả của
nó đă trở nên quan trọng đối với lịch sử
của Phi-líp-pin. Trước hết v́ nó đă giúp cho việc
truyền bá đạo Thiên Chúa trong các cư dân của quần
đảo, những người vui mừng có được
sự ủng hộ trong số những người đô
hộ và thứ hai v́ Phi-líp-pin đă trải qua một t́nh
trạng khác thường trong ḷng đế quốc Tây Ban
Nha, do đă không có sự cân bằng giữa quyền lực
của các nhà truyền giáo và của các chủ đồn
điền như ở các nơi khác: khi các chủ đồn
điền thấy khó trụ lại th́ ngày càng có ít người
đến.
Các
tiếp xúc với bên ngoài ngày càng tăng lên với sự
tranh giành giữa những người không theo đạo
và các nhà truyền giáo, bởi v́ trong khi một bên ngày càng
thành công th́ bên kia thấy viễn cảnh của ḿnh dần
dần thất bại. Manila trở thành nơi cung cấp
phần lớn nhu cầu khổng lồ về bạc của
Trung hoa khi năm 1572 bắt buộc tiền thuế phải
trả bằng bạc. V́ vậy, ở Đông Á quan hệ
bạc-vàng có lợi hơn (6 bạc ăn 1 vàng, so với
12 ăn một ở những nơi khác trên thế giới),
và hàng hóa của châu Á tràn ngập các thị trường
châu Mỹ, trong khi các nhà buôn người Tây Ban Nha có sự
hiện diện ngày càng lớn hơn trong khu vực. Ví dụ
vào đầu thế kỷ 17, Nhật bản trở thành
cảng đến quan trọng thứ ba của
Tuy
nhiên, sự bành trướng về truyền giáo cũng
đến lúc thoái trào. Từ đầu thế kỷ 17,
các nhà truyền giáo ngày càng nhận thức được
các khó khăn khi truyền bá tôn giáo của ḿnh. Ngược
với đạo Hồi, đạo Thiên chúa cần có sự
đô hộ chính trị để có thể mang tính liên tục
và Phi-líp-pin đă trở nên một trường hợp ngoại
lệ trong khu vực. Ngoài ra không có một quan lại phong
kiến hoặc một quan chức châu Á nào chuyển đạo
lại có thể chuyển giao được quyền lực
và truyền được đạo Thiên Chúa được
cho một người khác. Do đó các nhà truyền đạo
thấy rằng các nơi hữu hảo ngày càng thu hẹp
và công việc của họ ngoài những nơi có quyền
lực chính trị (Macao, Malaca, Đông Ti-mo, Phi-líp-pin) họ
chỉ giới hạn vào những người
phương Tây, như đă diễn ra ở Việt Nam hoặc
ngày càng lộ vẻ chống chính phủ như ở Nhật
Bản, nơi mà lúc đầu tiếp nhận rất tốt
đẹp nhưng rồi quay sang ra lệnh trục xuất
và đôi khi c̣n xảy ra cả những vụ thảm sát.
Thập
kỷ 1620 là bước ngoặt
trong tranh chấp giữa các thương gia và các nhà
truyền giáo do tương lai thuộc địa của
quần đảo Phi-líp-pin. Để cân bằng quyền
lực của các nhà truyền
giáo trong cộng đồng Tây Ban Nha, với số chủ
đồn điền đang giảm dần, chỉ c̣n lại
đám dân vô đạo chuyên buôn bán và các công chức
được trả lương từ Mê-hi-cô. Tại Nhật
Bản, các nhà truyền giáo đă phá tan nỗ lực của
các thương gia v́ họ cứ tiếp tục nhập cảnh
vào Nhật Bản phớt lờ lệnh cấm. Cuối
cùng, các nhà chức trách bắt buộc phải ra sắc lệnh
vào năm 1624 cấm tất cả người Tây Ban Nha bất
kể làm ǵ được vào Nhật, do không thể phân biệt
được giữa các thương gia và các nhà truyền
giáo. Nhưng hoạt động của họ cũng bị
tấn công. Hồng y địa phận Manila, Agustino
Jerónima de Silva, phàn nàn với Vua Felipe III rằng trong những
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 17,
người ta đă tạo thành thói quen cho dân Manila
đưa tiền hối lộ để có sự bảo
vệ cho các con tàu của họ đi Macao, Malaca, Xiêm,
Căm-pu-chia và các nơi khác thuộc quần đảo
Phi-líp-pin, thuê các thủy thủ giỏi nhất cho việc
này.
Các
lợi ích của thủ phủ cùng ḥa vào các tranh chấp
đó.Trước đây, người ta đă giới hạn
sự phát triển của thị trường tại
Phi-líp-pin v́ rằng việc xuất khẩu các sản phẩm
châu Á sang châu Mỹ làm hại tới việc xuất khẩu
từ Tây Ban Nha. Các thương gia vùng Sê-vi-gia, nơi các con
tàu xuất phát sang châu Mỹ đă gây sức ép làm cho việc
vận chuyển hàng từ châu Á chỉ giới hạn
trong mức độ tối thiểu. Vậy là từ
năm 1605,
2.- Sự thống
trị của các nhà truyền giáo
Vào
thập kỷ 1640, những người theo đạo
đă có một quyền lực không ǵ cản được
tại quần đảo Phi-líp-pin. Các tiếp xúc với
bên ngoài bị hạn chế tối đa kết hợp với
cảm giác bị đe dọa ngày càng tăng lên sau khi sự
hiện diện của Bồ Đào Nha gần như biến
mất hẳn. Sau khi cấm tất cả mọi quan hệ
với Nhật Bản từ năm 1639, sau vụ nổi
loạn Thiên Chúa giáo tại Shimabara, tại Kyushu, các công ty
ngoài nước của người Hà lan đă giằng khỏi
tay họ một cảng lớn ở châu Á, thành phố
Malaca, nơi kiểm soát eo biển Singapore. Thêm vào đó c̣n
là sự suy thoái chung của thương mại toàn cầu.
Kể từ lúc này, sự chi phối của các gia đ́nh
vùng Puebla, Mê-hi-cô đối với các lợi nhuận kinh tế
được tạo ra do việc chuyển các sản phẩm
giữa Manila và Acapulco và cuối cùng là giảm một nửa
số lượng hàng năm chuyển đi từ Mê-hi-cô
cho chính quyền ở Phi-líp-pin, có nghĩa là giảm các chi
phí quản lư và cùng với nó là sự hiện diện về
mặt nhà nước. Phi-líp-pin nằm trong tay của các
quyền lợi truyền đạo: thực dân hóa tập
trung chủ yếu vào công việc của nó, với một
số ít dân vô đạo, và với các mối tiếp xúc
bên ngoài tập trung ở Mê-hi-cô, một lănh thổ khác theo
đạo Thiên Chúa, trong lúc hàng hóa dành cho Nao de Acapulco
được những người Trung hoa trực tiếp
đưa đến. Những năm đó hệ thống
của Phi-líp-pin được thiết lập như sau:
sự thống trị của các ḍng đạo và một
chính quyền phụ thuộc vào nhà thờ để làm bất
cứ việc ǵ, v́ rằng cơ quan duy nhất được
thiết lập trên toàn bộ quần đảo là các ḍng
đạo, họ phân chia nhau vùng lănh thổ và hưởng
quyền lợi từ các chức năng đặc biệt
lớn.
Ví
dụ điển h́nh nhất của sự thống trị
này là vào đầu thế kỷ 18, với sự xuất
hiện của Fernando Manuel de Bustamante y Rueda, toàn quyền
đầu tiên do Quốc vương xứ Borbón phong cho. Bustamante
là quan toàn quyền đầu tiên thực hiện cải
cách trong nhiều năm ở Phi-líp-pin. Ông ta ư thức
được nhu cầu củng cố chính quyền của
ḿnh, nghĩa là nắm được rơ ràng chi tiết hàng
hóa của ḿnh chở sang
Tuy
nhiên, các nỗ lực của Bustamante nhằm cải cách
Phi-líp-pin đă có một kết cục thảm hại v́
năm 1719, một cuộc nổi dậy của dân chúng
đă lấy đi mạng sống của ông cùng đứa
con trai và giải phóng cho Tổng giám mục ra khỏi nhà
tù, người đă thay thế vị trí của ông trong
hai năm sau đó. Sau thất bại này, đă có những
dự định mới nhằm cải thiện quan hệ
của Phi-líp-pin với bên ngoài, bao gồm một tàu chở
hàng được đóng tại Xiêm vào năm 1747 theo nội
dung thỏa thuận được kư kết từ thời
Bustamante, mặc dù nó chưa từng có hiệu lực.
Sự
thay đổi chủ yếu đến từ sự thúc
đẩy bên ngoài. Việc Anh chiếm đóng Phi-líp-pin
(1752 – 1754) đă mang đến một thay đổi về
khái niệm chiến lược đối với quần
đảo này và cho rằng các đảo khác cần phải
cung cấp lợi ích cho thủ phủ và do đó hệ thống
thuế đă thay đổi và người ta đă lập
ra thuế bán hàng cho tiêu dùng, đặc biệt là đối
với mặt hàng rượu, cho phép sự hiện diện
của thường dân Tây Ban Nha vượt ra xa hơn cả
vùng Cebú và Manila. Trong khi đó, các cải cách của thế
kỷ XVIII đă làm yếu đi hệ thống tàu chở
hàng hàng năm, với việc mở ra tuyến Cadiz-Manila
năm 1765 và thành lập Công ty Hoàng gia Phi-líp-pin vào năm
1785 đồng thời cấm vận chuyển tuyến
Phi-líp-pin - châu Mỹ. Hệ quả của các cải cách
này làm cho quản lư nhà nước bắt đầu ăn
sâu vào quần đảo Phi-líp-pin và các giáo sỹ truyền
đạo không c̣n là mắt xích cần thiết đối
với các quyết định về Phi-líp-pin nữa.
3.- Kết nối
trực tiếp với bán đảo
Thế
kỷ 19 đă có những thay đổi đáng kể, kể
cả cách cai quản thuộc địa. Phi-líp-pin
được duy tŕ như một phần của đế
quốc Tây Ban Nha nhưng thời kỳ này được
tính từ khi Mê-hi-cô dành độc lập cho tới khi
Phi-líp-pin ra khỏi Tây Ban Nha vào năm 1898 có sự năng
động riêng của nó, một lần nữa đặc
trưng bởi một giai đoạn bành trướng giữa
thời sự uể oải đang ngự trị.
Trong
phần ba đầu thế kỷ, một khi số tiền
hàng năm được chuyển đến để trả
cho chính quyền đă biến mất sau độc lập
của Mê-hi-cô, thuế tiêu thụ trở thành nền tảng
của chính quyền Tây Ban Nha và với nó đă giảm bớt
một cách tương đối được tầm
quan trọng của các ḍng đạo tại Phi-líp-pin. Nhờ
tấm gương của Cuba mang lại các nguồn lợi
to lớn, khả năng thương mại của
Phi-líp-pin ngày càng rơ ràng hơn đối với Madrid và từ
phần ba thứ hai của thế kỷ, chính quyền trở
nên ngày càng mạnh với việc thiết lập cấp bậc
thuyền trưởng chung và về phía dân sự cũng
cài cắm dần vào các nơi khác như đối với
đảo Negros để sản xuất đường,
trong khi thị trường cũng đang gặp thuận
lợi với các quyết định quan trọng như
tuyên bố Manila là cảng tự do (1837), và sau đó c̣n thêm
các điều kiện khác cùng nỗ lực nhằm tham gia
vào thị trường thuốc phiện.
Ngoài
quần đảo Phi-líp-pin, t́nh h́nh thế giới cũng
tạo điều kiện thuận lợi cho Phi-líp-pin mở
rộng quan hệ với xung quanh, đặc biệt là về
lĩnh vực quân sự. Trên trường quốc tế,
các ham muốn thuộc địa của châu Âu trở nên
hung dữ hơn. Trước tiên, ngành thông tin đă đạt
được những tiến bộ mang tính quyết
định và thứ hai là cân bằng quân sự với các
nước không thuộc châu Âu đă thay đổi do sự
phát triển các công nghệ hủy diệt mới tại
châu Âu (bao gồm khả năng đưa các công nghệ
này trực tiếp xuống tàu chiến). Do đó, sức mạnh
của các cường quốc thực dân được
tăng lên. Anh là cường quốc đầu tiên tiến
sâu vào châu Á, bắt đầu bằng
Cuộc
viễn chinh tới Cochinchina là kết quả của bối
cảnh vô cùng thuận lợi cho các cuộc viễn chinh thực
dân. Cái chết của tu sỹ ḍng Đô-mi-ních người
Tây Ban Nha Díaz Sanjurjo năm 1857 và cuộc viễn chinh chung
sau đó với Pháp là cơ hội tiếp thêm sức mạnh
cho phần châu Á của đế chế, tại một thời
điểm mà khu vực dang hướng ra ngoài sau sự mở
cửa của Trung hoa và Nhật Bản. Sau nhiều
năm, các giáo sỹ truyền đạo lại quay trở lại hỗ
trợ cho cuộc bành trướng bên ngoài và thị trường
đă hé ra một sức sống mới kể từ khi sự
hiện diện của họ được củng cố
tại Xiamen (khi đó gọi là Amoy hoặc Emuy) và các tài liệu
c̣n chứng minh rằng người ta đă chuẩn bị
một Hiệp ước Thương mại với Xiêm
như đă làm với các cường quốc thuộc
địa khác. Chế độ thực dân của Tây Ban
Nha tại Phi-líp-pin cũng được mở rộng
hơn.
Các
kết quả về quân sự không đóng vai tṛ quan trọng
đối với tương lai của Tây Ban Nha tại
Đông dương. Chúng ảnh hưởng đặc biệt
tới chính cuộc khủng hoảng nội bộ của
Tây Ban Nha và các quan hệ với chế độ của
Napoleon, người đă sử dụng sự đồng
hành của Tây Ban Nha như một cách làm lợi cho các toan
tính thực sự của ḿnh. Trước hết, lấy
cớ cái chết của tu sỹ người Tây Ban Nha, sau
đó sử dụng binh lính Phi-líp-pin làm lực lượng
mở đường và sau cùng ở lại hẳn sau khi
lôi kéo được sự ủng hộ của
Căm-pu-chia. Thứ hai là v́ Tây Ban Nha đă không c̣n đủ
năng lực để chiếm thuộc địa. Về
mặt lư thuyết, chiếm một phần của Đông
dương làm thuộc địa sẽ là một sự
bành trướng gắn liền với Phi-líp-pin, một
nước nằm trên đường tới bán đảo
này, và có các sản phẩm bổ sung. Nhưng có sự mất
cân đối quá lớn giữa các tàu của Tây Ban Nha so với
các tàu của Pháp trong cuộc viễn chinh, điều
đó thể hiện sự thiếu thốn về
phương tiện. V́ vậy, cuối cùng những người
Tây Ban Nha đă phải t́m đến những người
Pháp keo kiệt chỉ chịu công nhận sự đóng góp
của Tây Ban Nha vào chiến thắng của ḿnh tại
Đông dương và chia xẻ các khoản bồi thường
chiến tranh, nhưng rơ ràng là Tây Ban Nha đă sử dụng
quá ít phương tiện để gây sức ép: tất cả
chỉ phụ thuộc vào ḷng tốt của Napoleon.
V́
vậy, sự kết thúc cuộc viễn chinh đến
Cochinchina đánh dấu sự xuống dốc vĩnh viễn
các tham vọng thuộc địa rải rác và nhất là,
một sự thay đổi gốc rễ trong nhận thức
của Tây Ban Nha về sự hiện diện của ḿnh tại
châu Á. Từ đó, mối quan tâm chủ yếu của các
nhà chức trách Tây Ban Nha là bảo vệ ḿnh trước
các thèm muốn của các cường quốc khác như ta
có thể thấy khi so sánh các chỉ thị được
phát đi từ Bộ Nhà nước (Bộ Ngoại giao)
liên quan tới bản Hiệp ước Hữu nghị
tương lai với Bangkok năm 1859 và năm 1869. Các chỉ
thị trước khi xảy ra cuộc viễn chinh tới
Cochinchina t́m cách tranh thủ các thắng lợi ở
Đông dương để bành trướng sự hiện
diện của Tây Ban Nha, nhưng các chỉ thị năm
1869 đă tập trung vào việc tránh tất cả các quan hệ
có đi có lại cho phép người Xiêm hoặc các nước
khác thâm nhập thương mại vào Phi-líp-pin.
Từ
đó cho tới cuối thế kỷ, nỗ lực duy nhất
hướng tới châu Á lục địa một cách liên
tục là do yêu cầu của các lợi ích về mía
đường của
Những
cố gắng cuối cùng nhằm thúc đẩy quá tŕnh thực
dân hóa ở Phi-líp-pin thể hiện nhiều khó khăn
trong việc khắc phục các sai lầm mắc phải
trong suốt ba thế kỷ. Việc thuộc địa
hóa các ḥn đảo Carolinas từ năm 1887 c̣n rất vô
ích v́ đảo Ponape tuy nhỏ nhưng chưa bao giờ bị
chinh phục cũng như ḥn đảo Kosrae xa xôi mà
chưa bao giờ quân Tây Ban Nha đặt chân đến. Số
liệu sau cùng mà tôi muốn nhấn mạnh là năm 1897,
đúng một năm trước khi kết thúc sự hiện
diện của Tây Ban Nha tại châu Á, Vua Xiêm Chulalongkorn
đă thăm Tây Ban Nha trong khuôn khổ của một chuyến
thăm các nước châu Âu. Sự ṭ ṃ của người
nước ngoài dành cho chuyến thăm của nhà Vua thật
lớn: một ông vua được coi là chuyên quyền muốn
thăm Tây Ban Nha làm công chúng luôn tập trung đông đảo
không chỉ mỗi khi ông ta xuất hiện mà họ c̣n kể
cho nhau nghe các giai thoại về nhà vua, kể cả chuyện
tếu và tin tức đủ các loại trên báo chí. Nhưng
điều ngạc nhiên nhất là sự vắng bóng hoàn
toàn các tin tức về sự gần gũi với quần
đảo Phi-líp-pin, và càng ít
hơn nữa là khả năng trợ giúp dưới một
h́nh thức nào đó trước cuộc khởi nghĩa tại
Phi-líp-pin đă nổ ra vào lúc đó. Phi-líp-pin đă hoàn toàn
bị tách ra khỏi khu vực xung quanh trong sự tưởng
tượng của công chúng.
Kết luận
Quan
hệ giữa Việt
Tuy
nhiên, một cái nh́n dài hạn cho phép có thêm những kết
luận v́ có thể thấy rằng các nỗ lực nhằm
cải thiện quan hệ được lặp đi lặp
lại và kết nối với các quan hệ trước
khi tiếp xúc với người châu Âu cũng như với
thế kỷ XX. Dù rằng các lợi ích chính trị có
đối lập nhau, làm cho Phi-líp-pin đi ngược lại
với châu Á, đă luôn luôn tồn tại nhu cầu thúc
đẩy một mối quan hệ với nhau. Điều
này làm ta nghĩ rằng Đông Nam Á đă tồn tại
trước khi có khái niệm mang dấu ấn của
người Nhật vào thế kỷ XX.
![]()
![]()
Libros Books Académico Scholarly Artículos Articles Reseñas-Reviews 日本語 Tagalog