Florentino Rodao

Trans:  Nguyen Lan Phuong.

Institut of History (Vien Su Hoc Viet Nam), Hanoi, 3/VI/2008 

 

 

Phi-líp-pin, Việt Nam và Tây Ban Nha từ khi c̣n chưa có

 Đông Nam Á , 1565-1898

(The Philippines, Vietnam and Spain when there was not a Southeast Asia as such, 1565-1898)

 

 

Các mối quan hệ trong lịch sử giữa Tây Ban Nha và Việt Nam ít ỏi một cách bất b́nh thường. Số liệu này đáng chú ư bởi v́ chỉ cần nh́n một tấm bản đồ người ta sẽ nhận ra ngay là chúng ta đă ở gần nhau như thế nào trong suốt hơn ba thế kỷ, chỉ cách vài trăm cây số đường biển và biết bao cây số bờ biển nằm gần như song song với nhau. V́ vậy, tôi muốn đặt câu hỏi bằng một cách khác: Điều ǵ đă xảy ra làm cho quan hệ lại ít ỏi như vậy dù khoảng cách rất gần?, nghĩa là Điều ǵ đă ngăn cản các quan hệ? để thay cho Quan hệ ít ỏi là do những nguyên nhân nào?

 

            Nhằm mục đích đó , tôi sẽ nhắc lại các mối quan hệ và những cố gắng tiếp xúc qua các thời kỳ khác nhau trong thời gian Tây Ban Nha có mặt tại Phi-líp-pin. Nhưng tôi sẽ tập trung chủ yếu vào chính bối cảnh nội bộ của quần đảo Phi-líp-pin, đối với khu vực cũng như trong Đế quốc Tây Ban Nha. Ngoài ra, tôi coi các quan hệ với Việt nam, hay với các bờ biển Việt Nam như là một phần của phạm vi khu vực v́ rằng sự ít ỏi trong quan hệ c̣n được ghi nhận với toàn bộ khu vực Đông Nam châu Á. Ngwoif ta có thể chia sự hiện diện của Tây Ban Nha tại châu Á ra làm ba thời kỳ chính: trước tiên là sự bành trướng cho tới năm 1605, và tiếp theo là thời kỳ ……….. của Manila, kéo dài tới năm 1810 và cuối cùng là các quan hệ trực tiếp giữa Phi-líp-pin và Tây Ban Nha tới năm 1898.

 

1.- Sự bành trướng sang châu Á

 

Giai đoạn đầu tiên với đặc thù chưa xác định về một lănh thổ mà Magallanes và Elcano đă t́m thấy trong chuyến đi ṿng quanh thế giới lần đầu vào năm 1520, đó là quần đảo Phi-líp-pin. Sau bốn thập kỷ, khi những người Tây Ban Nha có thể chiến thắng lực lượng đối lập Bồ Đào Nha một cách dễ dàng hơn, một đoàn viễn chinh đă đến từ Tân Tây Ban Nha (Mê-hi-cô) để định cư vĩnh viễn, một mục tiêu khả thi sau khi t́m được con đường trở về bờ biển châu Mỹ nhờ ḍng nước đen hay c̣n gọi là Kuroshio. Cộng đồng Tây Ban Nha định cư đầu tiên ở vùng Cebú và sau đó chuyển sang Manila v́ hai lư do: một mặt đây là một cảng biển tuyệt vời, có thể là cảng tốt nhất châu Á, và mặt khác do vị trí của nó nằm gần các bờ biển của châu Á đại lục.

 

Những năm đầu, họ đă tranh căi rất nhiều về hai khả năng lựa chọn có thể vào lúc đó. Trước mong muốn định cư vĩnh cửu tại Manila, người ta đă đuổi các quan chức Hồi giáo ra khỏi thành phố và xây dựng những bức tường chắn có một không hai. Nhiều người Tây Ban Nha định cư ở quần đảo này trong những năm đó đă coi đây là bước tiến đầu tiên của ḿnh về phía châu Á. Trên thực tế, trong thập kỷ 1580, khi chưa có ai định cư, đă có nhiều ư kiến đề xuất chinh phục Trung hoa, xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, từ những cách nh́n nhận của người nước ngoài cũng như từ sự tin tưởng mà một số người đi xâm chiếm thể hiện sau khi đă chinh phục được phần lớn châu Mỹ. Không có đề xuất nào biến thành hành động cụ thể, một phần v́ những người sống ở châu Á được tiếp cận nhiều hơn với thông tin cũng như v́ họ đă gửi các đoàn sứ giả ḥa b́nh và các đoàn này đă áp đặt, ít nhất là như vậy, một thời gian chờ đợi mà cuối cùng đă biến thành vĩnh viễn.

 

Trong thập kỷ 1590, những người Tây Ban Nha ở châu Á đă hướng cái nh́n của ḿnh vào vùng Đông Nam Á và đă có những cuộc viễn chinh đầu tiên. Năm 1596, một cuộc viễn chinh gồm ba chiếc tàu thủy đă đi đến Phnom Penh để giúp Vua Cam-pu-chia Paramaraja II (Vua từ 1579 đến 1594) trong các tranh chấp nội bộ chống lại các phe khác cũng như trong các tranh chấp bên ngoài chống lại thế lực đang ngày càng mạnh của người Xiêm. Đă không có con tàu nào đến được như dự định, nhưng con tàu đến muộn nhất là con tàu chỉ huy, dưới quyền của thuyền trưởng Juan Juarez Gallinato, chính là v́ nó đă dừng lại ở bờ biển Việt Nam, có thể là t́m cách trừng phạt trả thù cho cái chết của toàn quyền Gómez Pérez Dasmariñas năm 1593 do một đoàn thủy thủ Trung hoa mà sau đó biến mất tại bờ biển Cochinchina. Trong lúc chờ đợi Gallinato, quân viễn chinh đă gặp rắc rối ở Phnom Penh sau khi được tin Vua Paramaraja đă chết và phải đối mặt trước tiên với những người Trung hoa và sau đó là với quân lính chủ lực của Triều đ́nh khi tấn công vào cung Vua và gây ra cái chết của Vua mới (Mahapabitr, trị v́ 1594 -1596). Cuối cùng họ phải bỏ chạy xuống hạ lưu để tránh sự lung sục gắt gao của quân Cam-pu-chia, t́m nơi ẩn náu và trốn chạy tại các con tàu đang neo đậu tại đó, đúng vào thời điểm thuyền trưởng Gallinato vừa tới. Thấy t́nh h́nh quá phức tạp, thuyền trưởng Gallinato quyết định trở về Manila, lại đi qua bờ biển Việt Nam và dừng đầu tiên ở Champa và sau đó tại các cảng thuộc Đại Việt, và lại chia quân viễn chinh, một số đi sang Cam-pu-chia theo đường bộ và số c̣n lại trở về Manila.

 

Hai năm sau, vào năm 1598, một đoàn viễn chinh khác gồm ba tàu lại lên đường để hỗ trợ cho con của Vua Paramaraja. Đoàn này không có sự hỗ trợ chính thức của Manilamaf đơn thuần chỉ là do Luis Pérez Dasmariñas, con của cựu toàn quyền Dasmariñas dựng lên, nói cách khác là, cuộc viến chinh hoàn toàn thực hiện bằng ngân quỹ tư. Lần này quân viễn chinh đă phải chiến đấu với tất cả các lực lượng khác trong cả nước và sau khi lại rút gươm ra khỏi vỏ th́ cuối cùng họ đă bị thất bại và bị chết trong các cuộc hỗn chiến, dù rằng cũng có những tin sau này nói rằng một vài trong số những người mạo hiểm đó vẫn c̣n sống. Sau này lại có một yêu cầu “hữu nghị và giúp đỡ” nữa từ phía triều đ́nh Căm-pu-chia và toàn quyền Pedro de Acuña (1602-1606) đă cử một đoàn viễn chinh gồm sáu thường dân và ba giáo dân nhưng do thấy vấn đề phức tạp nên đă sớm hủy bỏ.

 

Các cuộc viễn chinh tới Đông Nam Á trong thập kỷ 1590 là khá thú vị. Đó là sự thể ghiện rơ nét nhất của thời kỳ bành trướng tại Phi-líp-pin, phản ánh những tham vọng của những người đă đi tới Phi-líp-pin, nhiều người trong số đó đă viết rằng họ đi Trung hoa do nhu cầu thiết lập cộng đồng định cư ở đó. Cần phải nêu bật hai nhận xét: rằng đă có yêu cầu giúp đỡ và đă đáp ứng với sự cộng tác của những người Bồ Đào Nha. Trước hết, các yêu cầu của một vua Căm-pu-chia t́m sự ủng hộ để chống lại các lực lượng đối lập trong nước và chống lại sự đe dọa từ bên ngoài, trong trường hợp này là từ nước Xiêm. Đây là khuôn mẫu đặc trưng của cái cớ để tiến hành đô hộ. Những người Tây Ban Nha đă tận dụng cái cớ này ở châu Mỹ và trường hợp của Căm-pu-chia không có lư ǵ lại phải khác đi, theo như khái niệm của những người mới tới. Thứ hai là ư tưởng và việc thực hiện là do cả người Tây Ban Nha lẫn người Bồ Đào Nha. Những người Bồ Đào Nha đă hoàn toàn chống lại người Tây Ban Nha trong những năm đầu tiên và trong thập kỷ 1530, cuộc viễn chinh của Villalobos từ châu Mỹ, sau cuộc viễn chinh của Elcano, đă được đón tiếp tại các đảo vùng Molucas bằng những phát đại bác. Sau này, tuy nguồn lợi và sức mạnh của người Bồ Đào Nha bị suy giảm nhưng họ vẫn tiếp tục chống lại bất kỳ h́nh thức hợp tác nào với người Tây Ban Nha và khi vương triều của Castilla và Bồ Đào Nha thống nhất lại (Liên hiệp Iberica 1581-1640) các lănh thổ hải ngoại của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đă có sự độc lập hoàn toàn với nhau và những người Tây Ban Nha không muốn phiêu lưu tại các vùng lănh thổ thuộc quyền cai trị của Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, vùng Đông Nam Á lục địa lại khác v́ lúc đó chưa thuộc quyền cai trị của bất kỳ ai và cả hai đă cùng cộng tác. Như vậy, mặc dù các cuộc viễn chinh xuất phát từ Manila, nhiều người Bồ Đào Nha đă mơ chinh phục được châu Á bắt đầu bằng những vùng lănh thổ nhỏ, cũng phải đối đầu với những kẻ thù của Aceh và tiêu diệt Trung hoa, như điều đă diễn ra với viên giám mục của Malaca người Bồ Đào Nha, Joao Ribeiro Gaio. Trong các cuộc viễn chinh, cùng với những người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, người ta c̣n ghi nhận sự có mặt của những người lai và nói chung, của nhiều người phiêu lưu nhan nhản trong khu vực, mà những ham muốn làm giàu hoặc truyền giáo đă làm nhạt đi bản sắc nguồn gốc.

 

Những tham vọng của thời kỳ bành trướng là sự pha trộn của các mục tiêu tôn giáo, của cải và quyền lực, tùy thuộc vào nhóm này hay nhóm kia. Trong lúc các nhà truyền giáo đang thắng thế và được kích động bởi ư tưởng là những người đầu tiên truyền đạo vào các nước này, th́ những người không đạo mơ tưởng tới của cải vật chất và quyền lực như đă diễn ra ở châu Mỹ như những ǵ họ được chứng kiến trong các chuyến đi của những năm đó, đầy ắp người mong muốn có một cuộc đời mới ở châu Á. Tuy nhiên, cùng với thời gian các nhà truyền giáo đă từng bước nắm được quyền cai trị ở châu Á. Trong khi đó, ở châu Mỹ, tầm quan trọng của họ bị giảm đi và chỉ c̣n duy tŕ được ở những vùng lănh thổ giáp ranh c̣n ở châu Á th́ họ đă củng cố được ảnh hưởng, trước tiên là ở Phi-líp-pin và sau đó là ở các phần c̣n lại trong khu vực. Họ đă đạt được điều này bằng các h́nh thức khác nhau, một trong số đó là thông qua xu hướng bảo vệ các thổ dân Phi-líp-pin trong các khiếu nại về việc họ bị các ông chủ đồn điền bóc lột, giúp họ thỉnh thoảng thắng kiện. Hệ quả của nó đă trở nên quan trọng đối với lịch sử của Phi-líp-pin. Trước hết v́ nó đă giúp cho việc truyền bá đạo Thiên Chúa trong các cư dân của quần đảo, những người vui mừng có được sự ủng hộ trong số những người đô hộ và thứ hai v́ Phi-líp-pin đă trải qua một t́nh trạng khác thường trong ḷng đế quốc Tây Ban Nha, do đă không có sự cân bằng giữa quyền lực của các nhà truyền giáo và của các chủ đồn điền như ở các nơi khác: khi các chủ đồn điền thấy khó trụ lại th́ ngày càng có ít người đến.

 

Các tiếp xúc với bên ngoài ngày càng tăng lên với sự tranh giành giữa những người không theo đạo và các nhà truyền giáo, bởi v́ trong khi một bên ngày càng thành công th́ bên kia thấy viễn cảnh của ḿnh dần dần thất bại. Manila trở thành nơi cung cấp phần lớn nhu cầu khổng lồ về bạc của Trung hoa khi năm 1572 bắt buộc tiền thuế phải trả bằng bạc. V́ vậy, ở Đông Á quan hệ bạc-vàng có lợi hơn (6 bạc ăn 1 vàng, so với 12 ăn một ở những nơi khác trên thế giới), và hàng hóa của châu Á tràn ngập các thị trường châu Mỹ, trong khi các nhà buôn người Tây Ban Nha có sự hiện diện ngày càng lớn hơn trong khu vực. Ví dụ vào đầu thế kỷ 17, Nhật bản trở thành cảng đến quan trọng thứ ba của Manila.

 

Tuy nhiên, sự bành trướng về truyền giáo cũng đến lúc thoái trào. Từ đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo ngày càng nhận thức được các khó khăn khi truyền bá tôn giáo của ḿnh. Ngược với đạo Hồi, đạo Thiên chúa cần có sự đô hộ chính trị để có thể mang tính liên tục và Phi-líp-pin đă trở nên một trường hợp ngoại lệ trong khu vực. Ngoài ra không có một quan lại phong kiến hoặc một quan chức châu Á nào chuyển đạo lại có thể chuyển giao được quyền lực và truyền được đạo Thiên Chúa được cho một người khác. Do đó các nhà truyền đạo thấy rằng các nơi hữu hảo ngày càng thu hẹp và công việc của họ ngoài những nơi có quyền lực chính trị (Macao, Malaca, Đông Ti-mo, Phi-líp-pin) họ chỉ giới hạn vào những người phương Tây, như đă diễn ra ở Việt Nam hoặc ngày càng lộ vẻ chống chính phủ như ở Nhật Bản, nơi mà lúc đầu tiếp nhận rất tốt đẹp nhưng rồi quay sang ra lệnh trục xuất và đôi khi c̣n xảy ra cả những vụ thảm sát.

 

Thập kỷ 1620 là bước ngoặt  trong tranh chấp giữa các thương gia và các nhà truyền giáo do tương lai thuộc địa của quần đảo Phi-líp-pin. Để cân bằng quyền lực của  các nhà truyền giáo trong cộng đồng Tây Ban Nha, với số chủ đồn điền đang giảm dần, chỉ c̣n lại đám dân vô đạo chuyên buôn bán và các công chức được trả lương từ Mê-hi-cô. Tại Nhật Bản, các nhà truyền giáo đă phá tan nỗ lực của các thương gia v́ họ cứ tiếp tục nhập cảnh vào Nhật Bản phớt lờ lệnh cấm. Cuối cùng, các nhà chức trách bắt buộc phải ra sắc lệnh vào năm 1624 cấm tất cả người Tây Ban Nha bất kể làm ǵ được vào Nhật, do không thể phân biệt được giữa các thương gia và các nhà truyền giáo. Nhưng hoạt động của họ cũng bị tấn công. Hồng y địa phận Manila, Agustino Jerónima de Silva, phàn nàn với Vua Felipe III rằng trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 17, người ta đă tạo thành thói quen cho dân Manila đưa tiền hối lộ để có sự bảo vệ cho các con tàu của họ đi Macao, Malaca, Xiêm, Căm-pu-chia và các nơi khác thuộc quần đảo Phi-líp-pin, thuê các thủy thủ giỏi nhất cho việc này.

 

Các lợi ích của thủ phủ cùng ḥa vào các tranh chấp đó.Trước đây, người ta đă giới hạn sự phát triển của thị trường tại Phi-líp-pin v́ rằng việc xuất khẩu các sản phẩm châu Á sang châu Mỹ làm hại tới việc xuất khẩu từ Tây Ban Nha. Các thương gia vùng Sê-vi-gia, nơi các con tàu xuất phát sang châu Mỹ đă gây sức ép làm cho việc vận chuyển hàng từ châu Á chỉ giới hạn trong mức độ tối thiểu. Vậy là từ năm 1605, Madrid đă giới hạn việc buôn bán với châu Á vào một chuyến tàu mỗi năm. Năm 1620, khi Tổng Giám mục de Silva, đă kể đến trên đây, gửi lời phàn nàn về Madrid, sự lo lắng chiến lược cho các đảo Phi-líp-pin là hết sức lớn. Nỗi sợ một cuộc tấn công mới của Hà lan dựa trên vô số lần họ định chiếm thành phố đă được vây bọc bằng tường thành và dẫn tới việc xây dựng một pháo đài ở Đài loan vào năm 1624.Như vậy, việc Jerónimo de Silva khăng khăng chỉ ra rằng sự thiếu vắng các thương gia làm ngăn cản sự chung tay làm việc  tại Manila và các binh lính chiến đấu chống lại quân Hà lan đă có ảnh hưởng ở Triều đ́nh v́ rằng những lời phàn nàn của họ không chỉ đến tai nhà Vua, như các ghi chú bên lề, mà c̣n ảnh hưởng tới việc phải ra một lệnh mới vào năm 1622 để khỏi phải “đưa tàu từ Phi-líp-pin sang phía Tây”, điều đó có nghĩa là sẽ xuất phát từ Ma-la-si-a đi sang Xiêm và Căm-pu-chia.

 

2.- Sự thống trị của các nhà truyền giáo

 

Vào thập kỷ 1640, những người theo đạo đă có một quyền lực không ǵ cản được tại quần đảo Phi-líp-pin. Các tiếp xúc với bên ngoài bị hạn chế tối đa kết hợp với cảm giác bị đe dọa ngày càng tăng lên sau khi sự hiện diện của Bồ Đào Nha gần như biến mất hẳn. Sau khi cấm tất cả mọi quan hệ với Nhật Bản từ năm 1639, sau vụ nổi loạn Thiên Chúa giáo tại Shimabara, tại Kyushu, các công ty ngoài nước của người Hà lan đă giằng khỏi tay họ một cảng lớn ở châu Á, thành phố Malaca, nơi kiểm soát eo biển Singapore. Thêm vào đó c̣n là sự suy thoái chung của thương mại toàn cầu. Kể từ lúc này, sự chi phối của các gia đ́nh vùng Puebla, Mê-hi-cô đối với các lợi nhuận kinh tế được tạo ra do việc chuyển các sản phẩm giữa Manila và Acapulco và cuối cùng là giảm một nửa số lượng hàng năm chuyển đi từ Mê-hi-cô cho chính quyền ở Phi-líp-pin, có nghĩa là giảm các chi phí quản lư và cùng với nó là sự hiện diện về mặt nhà nước. Phi-líp-pin nằm trong tay của các quyền lợi truyền đạo: thực dân hóa tập trung chủ yếu vào công việc của nó, với một số ít dân vô đạo, và với các mối tiếp xúc bên ngoài tập trung ở Mê-hi-cô, một lănh thổ khác theo đạo Thiên Chúa, trong lúc hàng hóa dành cho Nao de Acapulco được những người Trung hoa trực tiếp đưa đến. Những năm đó hệ thống của Phi-líp-pin được thiết lập như sau: sự thống trị của các ḍng đạo và một chính quyền phụ thuộc vào nhà thờ để làm bất cứ việc ǵ, v́ rằng cơ quan duy nhất được thiết lập trên toàn bộ quần đảo là các ḍng đạo, họ phân chia nhau vùng lănh thổ và hưởng quyền lợi từ các chức năng đặc biệt lớn.

 

Ví dụ điển h́nh nhất của sự thống trị này là vào đầu thế kỷ 18, với sự xuất hiện của Fernando Manuel de Bustamante y Rueda, toàn quyền đầu tiên do Quốc vương xứ Borbón phong cho. Bustamante là quan toàn quyền đầu tiên thực hiện cải cách trong nhiều năm ở Phi-líp-pin. Ông ta ư thức được nhu cầu củng cố chính quyền của ḿnh, nghĩa là nắm được rơ ràng chi tiết hàng hóa của ḿnh chở sang Acapulco, v́ rằng trong số hàng hóa đó có nhiều thứ trốn kê khai và như vậy th́ không thể đánh thuế được. Năm 1718 ông đă dự định tiến hành kiểm kê số hàng hóa này. Nhưng để tránh điều đó con tàu Nao de Acapulco đă rời bến một cách bất hợp pháp và Bustamante đă đáp lại bằng cách ngay lập tức phái một tàu do cháu của ḿnh, Gregorio, làm thuyền trưởng đi thông báo cho các nhà chức trách Mê-hi-cô trước khi hàng được dỡ xuống và tịch thu số hàng hóa đă trốn thuế. Không chỉ có vậy, ông c̣n thấy rằng lối thoát cho Phi-líp-pin là thúc đẩy việc buôn bán với các khu vực lân cận. Ngoài ra ông c̣n dám đương đầu với nhà thờ v́ ông đă dám bắt giam Tổng giám mục của Manila, cha Francisco de la Cuesta và phái các sứ giả thương mại đi khắp các vùng xung quanh, từ Batavia của Hà Lan (Gia-các-ta) hoặc Madras thuộc Anh (Channai) cho tới Xiêm hoặc Tonkin, dưới sự chỉ huy của tướng Francisco de Echebeste, với mục tiêu t́m mua được lụa rẻ hơn là mua ở Trung hoa, đưa thêm các nhà truyền giáo vào và t́m hiểu khả năng đóng tàu chở hàng vượt đại dương.

 

Tuy nhiên, các nỗ lực của Bustamante nhằm cải cách Phi-líp-pin đă có một kết cục thảm hại v́ năm 1719, một cuộc nổi dậy của dân chúng đă lấy đi mạng sống của ông cùng đứa con trai và giải phóng cho Tổng giám mục ra khỏi nhà tù, người đă thay thế vị trí của ông trong hai năm sau đó. Sau thất bại này, đă có những dự định mới nhằm cải thiện quan hệ của Phi-líp-pin với bên ngoài, bao gồm một tàu chở hàng được đóng tại Xiêm vào năm 1747 theo nội dung thỏa thuận được kư kết từ thời Bustamante, mặc dù nó chưa từng có hiệu lực.

 

Sự thay đổi chủ yếu đến từ sự thúc đẩy bên ngoài. Việc Anh chiếm đóng Phi-líp-pin (1752 – 1754) đă mang đến một thay đổi về khái niệm chiến lược đối với quần đảo này và cho rằng các đảo khác cần phải cung cấp lợi ích cho thủ phủ và do đó hệ thống thuế đă thay đổi và người ta đă lập ra thuế bán hàng cho tiêu dùng, đặc biệt là đối với mặt hàng rượu, cho phép sự hiện diện của thường dân Tây Ban Nha vượt ra xa hơn cả vùng Cebú và Manila. Trong khi đó, các cải cách của thế kỷ XVIII đă làm yếu đi hệ thống tàu chở hàng hàng năm, với việc mở ra tuyến Cadiz-Manila năm 1765 và thành lập Công ty Hoàng gia Phi-líp-pin vào năm 1785 đồng thời cấm vận chuyển tuyến Phi-líp-pin - châu Mỹ. Hệ quả của các cải cách này làm cho quản lư nhà nước bắt đầu ăn sâu vào quần đảo Phi-líp-pin và các giáo sỹ truyền đạo không c̣n là mắt xích cần thiết đối với các quyết định về Phi-líp-pin nữa.

 

3.- Kết nối trực tiếp với bán đảo

 

Thế kỷ 19 đă có những thay đổi đáng kể, kể cả cách cai quản thuộc địa. Phi-líp-pin được duy tŕ như một phần của đế quốc Tây Ban Nha nhưng thời kỳ này được tính từ khi Mê-hi-cô dành độc lập cho tới khi Phi-líp-pin ra khỏi Tây Ban Nha vào năm 1898 có sự năng động riêng của nó, một lần nữa đặc trưng bởi một giai đoạn bành trướng giữa thời sự uể oải đang ngự trị.

 

Trong phần ba đầu thế kỷ, một khi số tiền hàng năm được chuyển đến để trả cho chính quyền đă biến mất sau độc lập của Mê-hi-cô, thuế tiêu thụ trở thành nền tảng của chính quyền Tây Ban Nha và với nó đă giảm bớt một cách tương đối được tầm quan trọng của các ḍng đạo tại Phi-líp-pin. Nhờ tấm gương của Cuba mang lại các nguồn lợi to lớn, khả năng thương mại của Phi-líp-pin ngày càng rơ ràng hơn đối với Madrid và từ phần ba thứ hai của thế kỷ, chính quyền trở nên ngày càng mạnh với việc thiết lập cấp bậc thuyền trưởng chung và về phía dân sự cũng cài cắm dần vào các nơi khác như đối với đảo Negros để sản xuất đường, trong khi thị trường cũng đang gặp thuận lợi với các quyết định quan trọng như tuyên bố Manila là cảng tự do (1837), và sau đó c̣n thêm các điều kiện khác cùng nỗ lực nhằm tham gia vào thị trường thuốc phiện.

 

Ngoài quần đảo Phi-líp-pin, t́nh h́nh thế giới cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Phi-líp-pin mở rộng quan hệ với xung quanh, đặc biệt là về lĩnh vực quân sự. Trên trường quốc tế, các ham muốn thuộc địa của châu Âu trở nên hung dữ hơn. Trước tiên, ngành thông tin đă đạt được những tiến bộ mang tính quyết định và thứ hai là cân bằng quân sự với các nước không thuộc châu Âu đă thay đổi do sự phát triển các công nghệ hủy diệt mới tại châu Âu (bao gồm khả năng đưa các công nghệ này trực tiếp xuống tàu chiến). Do đó, sức mạnh của các cường quốc thực dân được tăng lên. Anh là cường quốc đầu tiên tiến sâu vào châu Á, bắt đầu bằng Singapore rồi sau đó là Hong Kong. Pháp, về phần ḿnh, cũng đă xuất phát rời khỏi căn cứ Pondicherry ở Ấn độ và để tiến sâu vào khu vực đă dự định mua lại của Tây Ban Nha ḥn đảo Basilan của Phi-líp-pin. Trên b́nh diện thủ phủ, Tây Ban Nha cũng có ham muốn mănh liệt trỗi dậy khi nghe tiếng gọi thuộc địa, nhất là khi Chính phủ của Liên minh tự do dưới sự lănh đạo của O´Donnell đă đạt tới một sự ổn định chính trị cao nhất, với đa số nghị viện và chính phủ có thời gian hoạt động cao hơn mức b́nh quân. Đó cũng là thời điểm hấp hối của những cuộc xâm chiếm thực dân nhằm can thiệp vào các vấn đề nội bộ của các nước khác và Tây Ban Nha cũng đă gửi các đội quân viễn chinh tới Cộng ḥa Đôminicana, Mê-hi-cô và Ma-rốc. Tất nhiên, nền kinh tế Tây Ban Nha đă rất tồi tệ, đặc biệt là nền kinh tế của Cộng ḥa Đôminicana và đó chính là một trong những nguyên nhân của cuộc nổi dậy mà cuối cùng đă trục xuất Nữ hoàng Isabel II của Tây Ban Nha.

 

Cuộc viễn chinh tới Cochinchina là kết quả của bối cảnh vô cùng thuận lợi cho các cuộc viễn chinh thực dân. Cái chết của tu sỹ ḍng Đô-mi-ních người Tây Ban Nha Díaz Sanjurjo năm 1857 và cuộc viễn chinh chung sau đó với Pháp là cơ hội tiếp thêm sức mạnh cho phần châu Á của đế chế, tại một thời điểm mà khu vực dang hướng ra ngoài sau sự mở cửa của Trung hoa và Nhật Bản. Sau nhiều năm, các giáo sỹ truyền đạo  lại quay trở lại hỗ trợ cho cuộc bành trướng bên ngoài và thị trường đă hé ra một sức sống mới kể từ khi sự hiện diện của họ được củng cố tại Xiamen (khi đó gọi là Amoy hoặc Emuy) và các tài liệu c̣n chứng minh rằng người ta đă chuẩn bị một Hiệp ước Thương mại với Xiêm như đă làm với các cường quốc thuộc địa khác. Chế độ thực dân của Tây Ban Nha tại Phi-líp-pin cũng được mở rộng hơn.

 

Các kết quả về quân sự không đóng vai tṛ quan trọng đối với tương lai của Tây Ban Nha tại Đông dương. Chúng ảnh hưởng đặc biệt tới chính cuộc khủng hoảng nội bộ của Tây Ban Nha và các quan hệ với chế độ của Napoleon, người đă sử dụng sự đồng hành của Tây Ban Nha như một cách làm lợi cho các toan tính thực sự của ḿnh. Trước hết, lấy cớ cái chết của tu sỹ người Tây Ban Nha, sau đó sử dụng binh lính Phi-líp-pin làm lực lượng mở đường và sau cùng ở lại hẳn sau khi lôi kéo được sự ủng hộ của Căm-pu-chia. Thứ hai là v́ Tây Ban Nha đă không c̣n đủ năng lực để chiếm thuộc địa. Về mặt lư thuyết, chiếm một phần của Đông dương làm thuộc địa sẽ là một sự bành trướng gắn liền với Phi-líp-pin, một nước nằm trên đường tới bán đảo này, và có các sản phẩm bổ sung. Nhưng có sự mất cân đối quá lớn giữa các tàu của Tây Ban Nha so với các tàu của Pháp trong cuộc viễn chinh, điều đó thể hiện sự thiếu thốn về phương tiện. V́ vậy, cuối cùng những người Tây Ban Nha đă phải t́m đến những người Pháp keo kiệt chỉ chịu công nhận sự đóng góp của Tây Ban Nha vào chiến thắng của ḿnh tại Đông dương và chia xẻ các khoản bồi thường chiến tranh, nhưng rơ ràng là Tây Ban Nha đă sử dụng quá ít phương tiện để gây sức ép: tất cả chỉ phụ thuộc vào ḷng tốt của Napoleon.

 

V́ vậy, sự kết thúc cuộc viễn chinh đến Cochinchina đánh dấu sự xuống dốc vĩnh viễn các tham vọng thuộc địa rải rác và nhất là, một sự thay đổi gốc rễ trong nhận thức của Tây Ban Nha về sự hiện diện của ḿnh tại châu Á. Từ đó, mối quan tâm chủ yếu của các nhà chức trách Tây Ban Nha là bảo vệ ḿnh trước các thèm muốn của các cường quốc khác như ta có thể thấy khi so sánh các chỉ thị được phát đi từ Bộ Nhà nước (Bộ Ngoại giao) liên quan tới bản Hiệp ước Hữu nghị tương lai với Bangkok năm 1859 và năm 1869. Các chỉ thị trước khi xảy ra cuộc viễn chinh tới Cochinchina t́m cách tranh thủ các thắng lợi ở Đông dương để bành trướng sự hiện diện của Tây Ban Nha, nhưng các chỉ thị năm 1869 đă tập trung vào việc tránh tất cả các quan hệ có đi có lại cho phép người Xiêm hoặc các nước khác thâm nhập thương mại vào Phi-líp-pin.

 

Từ đó cho tới cuối thế kỷ, nỗ lực duy nhất hướng tới châu Á lục địa một cách liên tục là do yêu cầu của các lợi ích về mía đường của Cuba. Cần cung cấp nhân công nô lệ do đă có lệnh cấm buôn bán nô lệ, và sau các khó khăn ngày càng tăng ở Trung hoa, mặc dù Tây Ban Nha đă sử dụng cảng Macao như một cách tránh các hạn chế của các nhà chức trách Trung hoa và Đông dương đă được coi là một phương án thay thế. Nỗ lực cuối cùng của Tây Ban Nha kết thúc năm 1880 với một Hiệp ước với Annam, do Melchor Ordóñez y Ortega kư nhằm gửi các nhân công Việt Nam được thuê đi làm ở Cuba đi cùng với chuyến tàu chở gạo và lụa đi Phi-líp-pin. Tuy rằng việc tuyển nhân công là mục tiêu chính, Hiệp ước này đă mở ra việc bán gạo Việt Nam cho Phi-líp-pin, điều vẫn c̣n tiếp tục cho đến hiện nay và được cho rằng nó mở đầu cho mối bang giao b́nh thường giữa hai quốc gia láng giềng rất gần nhau.

 

Những cố gắng cuối cùng nhằm thúc đẩy quá tŕnh thực dân hóa ở Phi-líp-pin thể hiện nhiều khó khăn trong việc khắc phục các sai lầm mắc phải trong suốt ba thế kỷ. Việc thuộc địa hóa các ḥn đảo Carolinas từ năm 1887 c̣n rất vô ích v́ đảo Ponape tuy nhỏ nhưng chưa bao giờ bị chinh phục cũng như ḥn đảo Kosrae xa xôi mà chưa bao giờ quân Tây Ban Nha đặt chân đến. Số liệu sau cùng mà tôi muốn nhấn mạnh là năm 1897, đúng một năm trước khi kết thúc sự hiện diện của Tây Ban Nha tại châu Á, Vua Xiêm Chulalongkorn đă thăm Tây Ban Nha trong khuôn khổ của một chuyến thăm các nước châu Âu. Sự ṭ ṃ của người nước ngoài dành cho chuyến thăm của nhà Vua thật lớn: một ông vua được coi là chuyên quyền muốn thăm Tây Ban Nha làm công chúng luôn tập trung đông đảo không chỉ mỗi khi ông ta xuất hiện mà họ c̣n kể cho nhau nghe các giai thoại về nhà vua, kể cả chuyện tếu và tin tức đủ các loại trên báo chí. Nhưng điều ngạc nhiên nhất là sự vắng bóng hoàn toàn các tin tức về sự gần gũi với quần đảo Phi-líp-pin, và càng ít hơn nữa là khả năng trợ giúp dưới một h́nh thức nào đó trước cuộc khởi nghĩa tại Phi-líp-pin đă nổ ra vào lúc đó. Phi-líp-pin đă hoàn toàn bị tách ra khỏi khu vực xung quanh trong sự tưởng tượng của công chúng.

 

 

Kết luận

 

Quan hệ giữa Việt Nam và Phi-líp-pin đă rất hạn chế trong suốt chiều dài lịch sử. Các lợi ích của chính Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Phi-líp-pin đóng vai tṛ quyết định ngăn cản các mối quan hệ b́nh thường với các nước xung quanh, đặc biệt là với Đông Nam Á lục địa. Chỉ những năm cuối cùng trong thời kỳ thuộc Tây Ban Nha Phi-líp-pin mới vượt qua được sự cô lập đó trong lĩnh vực thương mại dù rằng đă có nhiều cố gắng khác nhau nhằm tăng cường các tiếp xúc,  kể từ đầu sự có mặt của Tây Ban Nha cũng như những nỗ lực đột xuất trong thời kỳ cải cách vào giữa thế kỷ XIX khi chủ nghĩa thực dân đă dẫn đến một cuộc viễn chinh quân sự.

 

Tuy nhiên, một cái nh́n dài hạn cho phép có thêm những kết luận v́ có thể thấy rằng các nỗ lực nhằm cải thiện quan hệ được lặp đi lặp lại và kết nối với các quan hệ trước khi tiếp xúc với người châu Âu cũng như với thế kỷ XX. Dù rằng các lợi ích chính trị có đối lập nhau, làm cho Phi-líp-pin đi ngược lại với châu Á, đă luôn luôn tồn tại nhu cầu thúc đẩy một mối quan hệ với nhau. Điều này làm ta nghĩ rằng Đông Nam Á đă tồn tại trước khi có khái niệm mang dấu ấn của người Nhật vào thế kỷ XX.

 

 

     Libros  Books  Académico  Scholarly  Artículos Articles Reseñas-Reviews  日本語 Tagalog